Thông tin về thực trạng nguồn nước giếng khoan và nước sinh hoạt tại các vùng miền

Thong tin ve thuc trang nguon nuoc gieng khoan va nuoc sinh hoat tai cac vung mien

Thông tin về thực trạng nguồn nước giếng khoan và nước sinh hoạt tại các vùng miền

Thông tin về thực trạng nguồn nước giếng khoan và nước sinh hoạt tại các vùng miền

Có thể nói tùy từng vùng miền, khu vực mà nguồn nước giếng khoan, giếng khơi có những đặc tính nhiễm các chất kim loại nặng, tạp chất hữu cơ khác nhau. Tuy nhiên sự phân chia này cũng chỉ có tính tương đối, vì ngay trong một khu vực tùy từng độ sâu, tùy tầng nước ngầm khai thác mà chất lượng nguồn nước sinh hoạt cũng khác nhau.

1. Khu vực đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ, khu vực Hà Nội và lân cận

Nguồn nước giếng khoan có hàm lượng sắt (Nam Bộ gọi là nước nhiễm phèn), hàm lượng mangan cao.. Đặc điểm nước bơm lên rất trong, có mùi tanh, để tiếp xúc với không khí sau khoảng 30 phút có cặn nhiều cặn màu vàng hoặc váng nổi trên bề mặt, trong bể chứa hoặc bồn khi ta sờ vào thành bể thấy nhớt màu đen.

Ngoài ra, tại một số khu vực lân cận thành phố Hà Nội như một số huyện như Thạch Thất, Phúc Thọ… các tỉnh Hà Nam, Hưng Yên, Bắc Ninh… trong nguồn nước còn nhiễm thêm Asen, Amoni, tạp chất hữu cơ, huyễn phù…Đặc điểm chủ yếu của nguồn nước này sau khi đã lọc sơ vẫn còn màu xanh nhơ.

Thong tin ve thuc trang nguon nuoc gieng khoan va nuoc sinh hoat tai cac vung mien

2. Đặc điểm nước ngầm các khu vực có núi đá vôi

Nguồn nước nhiễm độ cứng cao (nước có chứa nhiều Iượng Caxi, Magiê. Đặc điểm nguồn nước có độ cảm quan rất trong, nhưng khi đun sôi sẽ tạo ra rất nhiều cặn trắng còn gọi là cặn vôi, gây ra hỏng các thiết bị nóng lạnh, tắc đường ống, hỏng màng lọc các máy lọc nước tinh khiết RO…

Địa điểm phân bố chính của nguồn nước này thường gặp ở các tỉnh miền núi, có núi đá vôi như Hà Giang, Tuyên Quang…

3. Đặc điểm nước ngầm khu vực ven và cận biển (miền Trung)

Nguồn nước lợ (nước nhiễm mặn), nguồn nước này chỉ nằm ở các vùng miền gần biển, nước bị nhiễm mặn. Khi xử lý nước nhiễm mặn đòi hỏi thiết bị sử dụng công nghệ cao, phức tạp.

Nước là yếu tố cơ bản về sự sống còn của cơ thể. Nước chiếm từ 60 – 70% trọng lượng cơ thể. 70% diện tích của trái đất được nước che phủ nhưng lượng nước dùng cho sinh hoạt lại chiếm phần rất nhỏ. Nước dùng trong sinh hoạt, ăn uống, chăn nuôi, sản xuất…chủ yếu được khai thác từ nguồn nước ngầm (nước giếng khoan) và nước bề mặt (ao, hồ, sông suối…). Hiện tại, ngoài các thành phố lớn có nước máy để sử dụng còn lại đa phần ở các khu vực chưa có điều kiện người dân tự khoan giếng, đào giếng để có nguồn nước sinh hoạt hàng ngày.